Trong những năm qua, Chi cục Bảo vệ thực vật (BVTV) Vĩnh Phúc đã có sự chủ trì và phối hợp với một số cơ quan ở Trung ương và địa phương để tổ chức thực hiện một số Dự án, Đề tài nghiên cứu khoa học về sản xuất rau an toàn. Qua đó đã tham mưu, giúp UBND tỉnh, Sở Nông nghiệp & PTNT tăng cường năng lực quản lý Nhà nước trong sản xuất - kinh doanh rau an toàn; Nhất là các dự án, đề tài khoa học như: Dự án xây dựng mô hình ứng dụng các sản phẩm công nghệ sinh học để tổ chức sản xuất và tiêu thụ rau an toàn ở Vĩnh Phúc; Dự án tăng cường năng lực quản lý Nhà nước trong sản xuất - kinh doanh rau an toàn (RAT) ở Vĩnh Phúc giai đoạn 2009 - 2011; Dự án nâng cao chất lượng an toàn sản phẩm nông nghiệp và phát triển chương trình khí sinh học (QSEAP) giai đoạn 2009 - 2015 và đề tài khoa học xây dựng thương hiệu rau quả cho một số loại rau quả an toàn được sản xuất trên địa bàn Vĩnh Phúc.


Trồng cà chua theo VietGAP giúp nông dân làm giàu (Ảnh minh họa)
 
 

Thông qua việc thực hiện các Dự án, đề tài khoa học trên, trong đó có những đề tài khoa học cấp Nhà nước, việc tổ chức sản xuất tiêu thụ nói chung, công tác quản lý Nhà nước nói riêng trong sản xuất và tiêu thụ RAT ở Vĩnh Phúc trong những năm qua đã thu được những kết quả chủ yếu sau đây:

 1. Quy hoạch vùng trồng rau an toàn của tỉnh giai đoạn từ nay đến 2020.

 Theo Quyết định số: 1674/QĐ-UBND ngày 20 tháng 7 năm 2012 của UBND tỉnh về việc: “phê duyệt Quy hoạch vùngsản xuất RAT tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn đến năm 2020” Với diện tích Quy hoạch là 3.127 ha, trong đó diện tích trồng rau tập trung 2.951 ha; Diện tích trồng rau chuyên canh 832 ha, diện tích luân canh (chủ yếu là cây lúa) 2.290 ha, ở 84 xã trên tổng số 137 xã, phường, thị  trấn trong toàn tỉnh. Phấn đấu đến năm 2020: 100% rau được sản xuất trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc được chứng nhận đạt tiêu chuẩn từ VietGAP  và tương đương trở lên.

 2. Xây và ban hành quy trình kỹ thuật sản xuất rau an toàn VietGAP:

Theo Quyết định số: 333/QĐ-SNN&PTNT ngày 04 tháng 12 năm 2012 của Sở nông nghiệp &PTNT về việc ban hành Quy trình sản xuất RAT gieo trồng trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc; Ban hành được 39 Quy trình kỹ thuật sản xuất RAT VietGAP: Trong số 39 Quy trình kỹ thuật sản xuất trên có 11 quy trình sản xuất RAT theo VietGAP trên cơ sở ứng dụng 100% các vật tư nông nghiệp (phân bón, thuốc BVTV…) có nguồn gốc sinh học, thảo mộc. Những quy trình này được xây dựng cho hầu hết các loại rau chủ yếu hiện đang được gieo trồng trên địa bàn tỉnh, ở các thời vụ sản xuất khác nhau. Qua việc khảo sát Quy trình, sản phẩm rau đều đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP), có năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao.

 3. Về công tác đào tạo tập huấn kỹ thuật trồng rau an toàn cho nông dân: Trong những năm qua, Vĩnh Phúc đã tổ chức được 1.167 lớp với 57.270 lượt nông dân tham gia, trong đó: Về sản xuất  RAT theo quy trình VietGAP 850 lớp với 42.500 nông dân tham gia; Tập huấn về quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) 19 lớp được 570 người; Tập huấn về vệ sinh ATTP 10 lớp với 300 học viên; Tập huấn về ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất RAT 10 lớp với 500 nông dân; Tập huấn về sử dụng thuốc BVTV an toàn, hiệu quả trên cây rau 7 lớp với 350 người; Tập huấn về kỹ thuật sản xuất RAT 271 lớp được 13.050 nông dân tham gia.

Kết quả tập huấn đã góp phần quan trọng giúp cho nông dân tiếp thu được Quy trình kỹ thuật sản xuất mới, ứng dụng vào thực tế sản xuất và đạt được những kết quả nhất định.

 4. Các cơ sở tham gia sản xuất rau an toàn: Đã có 114 lượt cơ sở sản xuất RAT: Diện tích 877 ha canh tác với 1460 ha gieo trồng được Sở nông nghiệp & PTNT cấp Giấy chứng nhận đủ điểu kiện sản xuất RAT; 36 cơ sở sản xuất RAT theo VietGAP với diện tích 517,36 ha canh tác đã được các tổ chức chứng nhận được Bộ Nông nghiệp &PTNT chỉ định, cấp chứng nhận cho toàn bộ sản lượng rau được sản xuất tại cơ sở, theo Quyết định số: 99/2008/QĐ-BNNPTNT; Quyết định số: 84/2008/QĐ-BNNPTNT; Thông tư 59/TT-BNNPTNT ngày 9 tháng 11 năm 2012 và thông tư 48/TT-BNNPTNT ngày 26 tháng 9 năm 2012 của Bộ Nông nghiệp và phát triên nông thôn. 

 Sản lượng rau được sản xuất trong vùng đủ điểu kiện và trong vùng được cấp Giấy chứng nhận VietGAP ước khoảng 30.528 tấn/năm bằng 25% tổng sản lượng rau sản xuất trên địa bàn toàn tỉnh.

5. Về xây dựng thương hiệu: Vĩnh Phúc đã xây dựng được 3 thương hiệu tập thể cho RAT gồm có: Thương hiệu Rau an toàn sông Phan được sử dụng chung cho các cơ sở sản xuất dọc theo hai bờ Sông Phan; Thương hiệu Rau an toàn Sao Mai được sử dụng chung cho các cơ sở trên địa bàn tỉnh sản xuất RAT theo quy trình VietGAP trên cơ sở ứng dụng 100% các vật tư nông nghiệp (phân bón, thuốc BVTV…) có nguồn gốc sinh học, thảo mộc; Thương hiệu Su Su an toàn Tam Đảo được sử dụng chung cho các hộ nông dân ở thị trấn Tam Đảo huyện Tam Đảo;

Những thương hiệu trên đã góp phần quan trọng thúc đấy sản xuất RAT phát triển và cung cấp đến  người tiêu dùng sản phẩm RAT đảm bảo chất lượng vệ sinh ATTP.

 6. Chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất rau ở Vĩnh Phúc: Hàng năm, Chi cục BVTV lấy mẫu rau trước khi đưa ra thị trường để phân tích các chỉ tiêu vệ sinh ATTP theo quy định. Từ năm 2008 đến nay đã tổ chức lấy 542 mẫu rau:  ngoài đồng (rau ở giai đoạn thu hoạch); trên thị trường lấy mẫu: Điểm bán lẻ, chợ, siêu thị…Kết quả phân tích có 3 mẫu chiếm 0,55% có dư lượng thuốc bảo BVTV vượt mức cho phép; 14 mẫu chiếm 2,58% có dư lượng N03- vượt mức cho phép, 3 mẫu chiếm  0,55% có hàm lượng vi sinh vật (Samonella, Ecoli, Colifom) gây bệnh đường ruột vượt mức cho phép; còn lại, tất cả các mẫu rau chỉ tiêu kim loại nặng (Pb, Hg, As, Cd) dưới mức cho phép. Trung bình 1,86% số mẫu có chất độc hại vượt mức cho phép thấp hơn nhiều so với những năm trước đây. Trong số những mẫu rau không đảm bảo chất lượng vệ sinh ATTP như trên chủ yếu là hàm lượng NO3- vượt ngưỡng do người dân bón quá nhiều phân đạm, bón muộn và không đảm bảo thời gian cách ly. 

Trong sản xuất rau ở Vĩnh Phúc trong những năm qua đã đạt được những kết quả nhất định, tuy nhiên cũng còn rất nhiều những khó khăn, hạn chế trong sản xuất RAT đó là:

- Diện tích sản xuất rau còn manh mún, phân tán, nhỏ lẻ rất khó khăn cho việc sản xuất, quản lý, chỉ đạo và giám sát chất lượng RAT theo quy định.

 - Một bộ phận bà con nông dân sản xuất RAT còn chạy theo lợi nhuận, xem nhẹ sức khỏe của người tiêu dùng. Cho nên việc lạm dụng thuốc BVTV, phân bón hóa học không đảm bảo thời gian cách ly ...

 - Người tiêu dùng còn chưa tin tưởng vào chất lượng RAT trong khi chi phí sản xuất RAT cao hơn rau thông thường, nhưng giá bán ngang bằng nhau; Sức mua thấp, đầu ra của RAT gặp nhiều khó khăn cho nên không thúc đẩy được RAT phát triển.

 - Cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị cho sản xuất, giám sát chất lượng sản phẩm, cán bộ: kỹ thuật, quản lý RAT còn thiếu đặc biệt ở cấp huyện, cấp xã nên việc tổ chức sản xuất, tiêu thụ, quản lý RAT còn rất nhiều khó khăn.

  Căn cứ vào Quy hoạch sản xuất RAT Vĩnh Phúc đã được UBND tỉnh phê duyệt; việc tổ chức sản xuất và tiêu thụ RAT ở Vĩnh Phúc trong những năm tới được thực hiện theo những mục tiêu sau:

 - Phấn đấu đến năm 2020: 50% cơ sở chế biến bảo quản rau, quả áp dụng quản lý chất lượng (HACCP, ISO); 100% diện tích rau tại các vùng sản xuất RAT tập trung áp dụng Quy trình VietGAP và hệ thống phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn (HACCP).

- Phát triển cơ cấu các loại rau theo hướng chuyên canh, đa canh phù hợp với thời vụ, đất đai, công nghệ sản xuất và nhu cầu thị trường. Tổ chức sản xuất RAT theo đúng các Quy trình kỹ thuật đã được Bộ Nông nghiệp & PTNT và Sở Nông nghiệp & PTNT Vĩnh Phúc ban hành. Củng cố và xây dựng nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu trong việc tổ chức sản xuất, kinh doanh RAT, bao gồm người sản xuất, hộ kinh doanh, cán bộ: kỹ thuật, kiểm tra giám sát, quản lý ở các cấp.

- Xây dựng và củng cố hệ thống dịch vụ nông nghiệp về giống, phân bón, thuốc BVTV theo hướng thuận lợi cho người sản xuất và tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về điều kiện kinh doanh, danh mục và chất lượng hàng hóa, sản phẩm, chú trọng các loại giống kháng sâu bệnh, phân bón và thuốc BVTV có nguồn gốc sinh học và thảo mộc.

- Cần hình thành nên các hợp tác xã kiểu mới, tổ hợp tác, trang trại, chủ hộ sản xuất, doanh nghiệp chuyên sản xuất, chuyên tiêu thụ RAT. Xây dựng các mô hình thí điểm khép kín từ sản xuất đến sơ chế, chế biến kinh doanh RAT có thương hiệu nhận diện và truy xuất sản phẩm.

- Đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại như xây dựng thương hiệu, đăng ký nhãn hiệu hàng hóa, tham gia vào các Hội chợ trong và ngoài tỉnh. Coi việc tiêu thụ RAT vừa là mục tiêu vừa là động lực để thúc đẩy sản xuất rau an toàn phát triển.

- Tiếp tục tăng cường năng lực quản lý Nhà nước trong sản xuất kinh doanh rau an toàn nhằm tạo ra các hành lang pháp lý để tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất RAT phát triển; Trong đó, cần tiếp tục xây dựng và triển khai các mô hình sản xuất và tiêu thụ RAT, xây dựng các chính sách để hỗ trợ cho sản xuất tiêu thụ RAT; chính sách về tài chính; chính sách về đất đai, dồn điền đổi thửa, chuyển đổi cơ cấu cây trồng để tạo nên những vùng sản xuất RAT chuyên canh, đa canh, bền vững.

Với sự vào cuộc quyết liệt của các cấp các ngành, các đơn vị chuyên môn của Sở nông nghiệp &PTNT và cơ sở. Việc tái cơ cấu ngành nông nghiệp trong lĩnh vực trồng trọt đặc biệt trong sản xuất RAT sẽ đạt được những kết quả nhất định theo kế hoạch đề ra./.

Theo Đinh Xuân Thường - Sở Nông nghiệp và PTNT Vĩnh Phúc